Cập nhật: 12/03/2020

Trình tự giải quyết tranh chấp đất đai, nhà ở, thừa kế

 

1. Hòa giải ở cơ sở, ở UBND xã/phường

Điều 202 Luật đất đai 2013 về Hòa giải tranh chấp đất đai quy định như sau:

Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.

Trong trường hợp các bên không đồng ý với biên bản hòa giải của Ủy ban nhân dân cấp xã, thì trình tự tiếp theo sẽ được giải quyết theo quy định tại Điều 203 Luật đất đai 2013.

2. Giải quyết tranh chấp tại Tòa án nhân dân hoặc Ủy ban nhân dân

Trước hết cần xem xét gia đình / cá nhân một trong các bên tranh chấp thửa đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong những giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai 2013, như:

+ Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

+ Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;

+ Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

+ Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;

+ Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất; Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ.

– Nếu gia đình/cá nhân một trong các bên tranh chấp thửa đất đã có một trong các giấy tờ kể trên và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết.

– Nếu gia đình/cá nhân một trong các bên tranh chấp thửa đất không có một trong các giấy tờ kể trên thì chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai sau đây:

– Hình thức thứ nhất: Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi có đất đai đang tranh chấp và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết và phải ra quyết định giải quyết tranh chấp; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

– Hình thức thứ hai: Khởi kiện tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có đất đai đang tranh chấp theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

Hình thức khởi kiện ra Tòa án nhân dân thường được lựa chọn vì tranh chấp đất đai thường khá phức tạp và kéo dài.

3. Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai, nhà ở, thừa kế tại Tòa án nhân dân

Nộp hồ sơ khởi kiện trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến Tòa án.

Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán thông báo cho người khởi kiện biết để làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí.

Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí tại Chi cục thi hành và nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí để thẩm phán vào sổ thụ lý vụ án.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán sẽ thông báo bằng văn bản cho người khởi kiện (nguyên đơn), người bị kiện (bị đơn), cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án.

Và giai đoạn chuẩn bị xét xử bắt đầu:

Thời hạn chuẩn bị xét xử các vụ án tranh chấp đất đai, thừa kế tài sản là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án, Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì gia hạn thêm không quá 02 tháng theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Trong giai đoạn này Thẩm phán tiến hành lập hồ sơ vụ án, xác minh, thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng; đối chất, thẩm định tại chỗ, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Tùy từng trường hợp mà Tòa án ra một trong các quyết định như: quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự hoặc Quyết định đưa vụ án ra xét xử nếu các bên hòa giải tại Tòa án không thành.

Tiếp theo, Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp đất đai trong vòng 01 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc phiên tòa, bạn được Tòa án cấp trích lục bản án.

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày tuyên án, Tòa án phải giao hoặc gửi bản án cho gia đình bạn.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nếu không đồng ý với bản án sơ thẩm thì các bên có quyền kháng cáo và nộp đơn kháng cáo bản án sơ thẩm cho Tòa án quận/ huyện đã ra bản án sơ thẩm đó.

Sau đó, tòa án cấp phúc thẩm trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo. Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm là 02 tháng và có thể gia hạn 01 tháng. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa phúc thẩm.

Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền:

– Giữ nguyên bản án sơ thẩm;

– Sửa bản án sơ thẩm;

– Hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm;

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp nếu các bên thấy rằng kết luận trong bản án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, hoặc

Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật, hoặc

Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra bản án không đúng, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.

Thì có quyền làm Đơn đề nghị xem xét bản án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm gửi cho người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm như Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao.

Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, trường hợp đặc biệt thì thời hạn kháng nghị được kéo dài thêm 02 năm.

Có thể bạn quan tâm:
Tư Vấn Pháp Luật Qua Zalo, Email, Messenger
Dịch Vụ Luật Sư Tranh Tụng Tại Tòa Án

Chi tiết vui lòng liên hệ:
 
CÔNG TY LUẬT SÓNG HỒNG
 
Địa chỉ: Tầng 3, số 26 phố Lê Đại Hành, phường Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
 
Luật Sóng Hồng
Dịch vụ luật sư