Cập nhật: 29/06/2020

Tội Vi Phạm Quy Chế Về Khu Vực Biên Giới

 

Tội vi phạm quy chế về khu vực biên giới được quy định tại Điều 346 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

Dấu hiệu pháp lý

– Khách thể của tội phạm

Tội phạm xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nước tại khu vực biên giới, theo đó khu vực biên giới bao gồm: khu vực biên giới trên đất liền gồm xã, phường,thị trấn có một phần địa giới hành chính trùng hợp với biên giới quốc gia trên đất liền; khu vực biên giới trên biển tính từ biên giới quốc gia trên biển vào hết địa giới hành chính xã, phường, thị trấn giáp biển và đảo, quần đảo; còn khu vực biên giới trên không gồm phận không gian dọc theo biên giới quốc gia có chiều rộng mười kilomet tính từ biên giới quốc gia trở vào.

– Mặt khách quan của tội phạm

– Hành vi vi phạm các quy định về cư trú, đi lại khu vực biên giới là hành vi không chấp hành hoặc chấp hành không đúng quy định của Nhà nước về khu vực biên giới trên đất liền, trên biển và trên không như hành vi của người không có hộ khẩu thường trú hoặc không được phép tạm trú ở khu vực biên giới mà cố ý cư trú ở khu vực đó; cư trú, đi lại khu vực biên giới khi đã có quyết định của cơ quan có thẩm quyền cấm người đó cư trú, đi lại; người nước ngoài xâm canh, xâm cư khu vực biên giới Việt Nam; đi lại khu vực biên giới mà không có giấy phép hợp lệ hoặc dùng giấy tờ giả mạo hoặc có các hành vi khác vi phạm các quy định về khu vực biên giới.

Thực tế, hành vi vi phạm quy chế về khu vực biên giới chủ yếu xảy ra trên đất liền và trên biển. Theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 34/2014/NĐ-CP ngày 29/4/2014 của Chính phủ quy định về quy chế khu vực biên giới đất liền thì những người được cư trú ở khu vực biên giới đất liền bao gồm: cư dân biên giới; người có giấy phép của cơ quan Công an có thẩm quyền cho phép cư trú ở khu vực biên giới đất liền; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công chức quốc phòng, công nhân viên quốc phòng, hạ sĩ quan, chiến sĩ Quân đội nhân dân; sĩ quan, công nhân, viên chức, hạ sĩ quan nghiệp vụ, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật Công an nhân dân có đơn vị đóng quân ở khu vực biên giới đất liền.

Còn theo Điều 10 Nghị định số 161/2003/NĐ-CP ngày 18/12/2003 của Chính phủ về quy chế khu vực biên giới biển thì công dân Việt Nam hoạt động trong khu vực biên giới biển phải có các giấy tờ như: giấy tờ tuỳ thân do cơ quan có thẩm quyền cấp (chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ do công an xã, phường, thị trấn nơi cư trú cấp); chứng chỉ chuyên môn của thuyền viên, sổ thuyền viên theo quy định của pháp luật; giấy phép sử dụng vũ khí (nếu có);

Còn theo Điều 13 Nghị định số 161/2003/NĐ-CP ngày 18/12/2003 thì đối với người nước ngoài hoạt động trong khu vực biên giới biển phải có các giấy tờ như: Hộ chiếu hợp lệ hoặc giấy tờ có giá trị tương đương thay hộ chiếu; các giấy tờ khác theo quy định của pháp luật Việt Nam. Còn người nước ngoài thường trú, tạm trú ở Việt Nam khi đến xã, phường, thị trấn giáp biển hoặc ra, vào các đảo, quần đảo (trừ khu du lịch, dịch vụ, khu kinh tế cửa khẩu, có quy chế riêng) phải có giấy phép của công an từ cấp tỉnh trở lên cấp và chịu sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan có thẩm quyền Việt Nam (Điều 14 Nghị định số 161/2003/NĐ-CP ).

– Hành vi vi phạm các quy định khác về khu vực biên giới là hành vi không chấp hành hoặc chấp hành không đúng các quy định về sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, xây dựng hoặc quay phim, chụp ảnh, ghi hình; làm hư hỏng, xê dịch cột mốc biên giới, dấu hiệu đường biên giới, biển báo khu vực biên giới, biển cấm hoặc làm mất an ninh, trật tự khu vực biên giới . . .

– Hành vi trên chỉ bị coi là tội phạm quy định tại Điều 346 Bộ luật hình sự nếu đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

– Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm nhưng có ý nghĩa trong việc xem xét, quyết định hình phạt.

– Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội thực hiện hành vi của mình với lỗi cố ý

– Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội này là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định.

Hình phạt

Khung cơ bản được quy định tại khoản 1 Điều 346 Bộ luật hình sự, theo đó người nào vi phạm quy định về cư trú, đi lại hoặc các quy định khác về khu vực biên giới, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Khung tăng nặng được quy định tại khoản 2 Điều 346 Bộ luật hình sự với mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

Căn cứ pháp lý

Điều 346 Bộ luật hình sự – Tội vi phạm quy chế về khu vực biên giới
1. Người nào vi phạm quy định về cư trú, đi lại hoặc các quy định khác về khu vực biên giới, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Tái phạm nguy hiểm hoặc phạm tội gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội khu vực biên giới, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

Có thể bạn quan tâm:
Tư Vấn Pháp Luật Qua Zalo, Email, Messenger
Luật Sư Bào Chữa Vụ Án Hình Sự

Luật Sóng Hồng
Dịch vụ luật sư