Cập nhật: 24/06/2020

Tội Trốn Tránh Nghĩa Vụ Quân Sự

 

Tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự được quy định tại Điều 332 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

Dấu hiệu pháp lý

– Khách thể của tội phạm

Tội phạm xâm phạm đến chế độ nghĩa vụ quân sự theo quy định của Nhà nước, xâm phạm đến hoạt động quản lý hành chính Nhà nước về đãng ký và thực hiện nghĩa vụ quân sự, lệnh gọi nhập ngũ và lệnh gọi tập trung huấn luyện.

– Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi phạm tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự được thể hiện qua các hành vi không hành động như: không chấp hành đúng quy định của pháp luật về đăng ký nghĩa vụ quân sự, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện.

Những hành vi nêu trên chi bị coi là tội phạm khi đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành cơ bản của tội này, nếu có thiệt hại xảy ra thì đó được coi là tình tiết xem xét khi quyết định hình phạt.

– Mặt chủ quan của tội phạm 

Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý.

– Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm là công dân Việt Nam thuộc diện phải đăng ký nghĩa vụ quăn sự hoặc đã có lệnh gọi nhập ngũ, lệnh tập trung huấn luyện, đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự.

Việc xác định diện phải đăng ký nghĩa vụ quân sự hoặc đã có lệnh gọi nhập ngũ, lệnh tập trung huấn luyện căn cứ vào quy định của Luật Nghĩa vụ quân sự và các văn bàn pháp luật có liên quan quy định độ tuổi, giới tính thực hiện nghĩa vụ quân sự. Cụ thể là theo quy định Điều 30 Luật nghĩa vụ quân sự 2015 thì: “Công dân đủ 18 tuổi được gọi nhập ngũ; độ tuổi gọi nhập ngũ từ đủ 18 tuổi đến hết 25 tuổi; công dân được đào tạo trình độ cao đẳng, đại học đã được tạm hoãn gọi nhập ngũ thì độ tuổi gọi nhập ngũ đến hết 27 tuổi”.

Để trở thành chủ thể của tội phạm này, ngoài các dấu hiệu quy định trong cấu thành cơ bản, người có hành vi trốn tránh nghĩa vụ quân sự chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi người đó đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Hình phạt

Khung cơ bản được quy định tại khoản 1 Điều 332 Bộ luật hình sự, theo đó người nào không chấp hành đúng quy định của pháp luật về đăng ký nghĩa vụ quân sự, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Khung tăng nặng thứ nhất được quy định tại khoản 2 Điều 332 Bộ luật hình sự với mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm nếu phạm tội trong trường hợp:

+ Tự gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của mình;

+  Phạm tội trong thời chiến;

+ Lôi kéo người khác phạm tội.

Căn cứ pháp lý

Điều 332 Bộ luật hình sự – Tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự
1. Người nào không chấp hành đúng quy định của pháp luật về đăng ký nghĩa vụ quân sự, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Tự gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của mình;
b) Phạm tội trong thời chiến;
c) Lôi kéo người khác phạm tội.

Có thể bạn quan tâm:
Tư Vấn Pháp Luật Qua Zalo, Email, Messenger
Luật Sư Bào Chữa Vụ Án Hình Sự

Luật Sóng Hồng
Dịch vụ luật sư