Cập nhật: 09/07/2020

Tội Ra Quyết Định Trái Pháp Luật

 

Tội ra quyết định trái pháp luật được quy định tại Điều 371 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

Dấu hiệu pháp lý

– Khách thể của tội phạm

Tội phạm này xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, xâm phạm đến hoạt động bình thường của Cơ quan điều tra, Viện kiêm sát, Toà án và Cơ quan thi hành án.

– Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan của tội phạm này là hành vi ra quyết định trong hoạt động tố tụng, thi hành án mà mình biết rõ là trái pháp luật. Hành vi ra quyết định trái pháp luật thông thường là bằng văn bản. Tuy nhiên, có trường hợp quyết định bằng miệng thì trường hợp này phải có căn cứ xác định của người có thẩm quyền đã quyết định và từ quyết định này đã trực tiếp gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước hoặc của công dân.

Tính trái pháp luật của quyết định là những quyết định có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Tính trái pháp luật được biểu hiện không chỉ trái pháp luật về nội dung của quyết định mà còn trái pháp luật cả về hình thức của quyết định đó.

Bài liên quan:  Tội Ra Bản Án Trái Pháp Luật

Hậu qủa là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này, đó là gây thiệt hại về tài sản từ 50.000.000 đồng trở lên hoặc gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Nếu hành vi ra quyết định trái pháp luật chưa gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân thì chưa cấu thành tội phạm này, mà tuỳ trường hợp người có hành vi có thể chỉ bị xử lý hành chính.

– Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý (cố ý trực tiếp).

– Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt, chỉ có những người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án như: Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều ưa; Viện trưởng, Phó viện trường Viện kiểm sát; Chánh án, Phó Chánh án Toà án; Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm, Chấp hành viên.

Hình phạt

Khung cơ bản được quy định tại khoản 1 Điều 371 Bộ luật hình sự, theo đó người nào có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng, thi hành án ra quyết định mà mình biết rõ là trái pháp luật gây thiệt hại về tài sản từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 368, 369, 370, 377 và 378 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Bài liên quan:  Tội Ra Bản Án Trái Pháp Luật

Khung tăng nặng thứ nhất được quy định tại khoản 2 Điều 371 Bộ luật hình sự với mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Khung tăng nặng thứ hai được quy định tại khoản 3 Điều 371 Bộ luật hình sự với mức phạt tù từ 07 năm đến 12 năm.

Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Căn cứ pháp lý

Điều 371 Bộ luật hình sự – Tội ra quyết định trái pháp luật

1. Người nào có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng, thi hành án ra quyết định mà mình biết rõ là trái pháp luật gây thiệt hại về tài sản từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 368, 369, 370, 377 và 378 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
c) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu;
d) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án, người phải chấp hành án, người bị hại, đương sự mà tỷ lệ tổn thương có thể từ 31% đến 60%;
đ) Gây thiệt hại về tài sản từ 200.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:
a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án, người phải chấp hành án, người bị hại, đương sự mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
b) Dẫn đến người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án, người phải chấp hành án, người bị hại, đương sự tự sát;
c) Gây thiệt hại về tài sản 1.000.000.000 đồng trở lên.
4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Có thể bạn quan tâm:
Tư Vấn Pháp Luật Qua Zalo, Email, Messenger
Luật Sư Bào Chữa Vụ Án Hình Sự

Luật Sóng Hồng
Dịch vụ luật sư