Cập nhật: 27/06/2020

Tội Làm Giả Con Dấu, Tài Liệu Của Cơ Quan, Tổ Chức; Tội Sử Dụng Con Dấu Hoặc Tài Liệu Giả Của Cơ Quan, Tổ Chức

 

Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 341 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

Dấu hiệu pháp lý

– Khách thể của tội phạm

Tội phạm xâm phạm trật tự quản lý hành chính của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý con dấu, tài liệu, giấy tờ của cơ quan, tổ chức.

– Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan của tội phạm này là hành vi làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật.

– Hành vi làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ của cơ quan, tổ chức được hiểu là hành vi khắc, đúc dấu giả, in, vẽ, photocopy màu hoặc bằng các thủ đoạn khác làm ra con dấu trái phép bắt chước theo mẫu con dấu đã dược cơ quan có thẩm quyền cho phép sản xuất, lưu hành hoặc không theo mẫu đó. Còn hành vi làm giả tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức là hành vi in ấn, sản xuất trái phép các tài liệu hoặc giấy tờ khác theo mẫu gốc hoặc không theo mẫu gốc của cơ quan, tổ chức như giấy giới thiệu, giấy chứng nhận, giấy chứng minh nhân dân, căn cước công dân, hộ khẩu, hộ chiếu, bằng tốt nghiệp các bậc trong hệ thống giáo dục quốc dân, giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ, gia đinh có công với cách mạng, giấy chứng nhận thương binh, bằng tổ quốc ghi công . . . Trong qúa trình làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác như nêu trên, người phạm tội có thể có hành vi thêm, bớt, sửa đổi nội dung . . . và đó chỉ là những dấu hiệu chứng minh thêm đối với hành vi phạm tội này.

Bài liên quan:  Tội Công Nhiên Chiếm Đoạt Tài Sản

– Hành vi sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ của cơ quan, tổ chức nhằm lừa dối cơ quan, tổ chức, công dân không nhằm chiếm đoạt tài sản mà nhằm mục đích khác như: dùng băng tốt nghiệp để xin việc, bổ nhiệm, tăng lương, đi lao dộng nước ngoài; làm giả giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ để hưởng chế độ theo quy đinh của Nhà nước . . .

– Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Chỉ cần người phạm tội thực hiện một trong hai hành vi nêu trên là tội phạm đã hoàn thành. Tuy nhiên, cần xác định mức độ hậu quả vì “phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” là một trong các tình tiết định khung tăng nặng.

– Ngoài ra, để xác định hành vi phạm tội cần nghiên cứu một số hành vi khách quan khác như các quy định về con dấu, về tài liệu, giấy tờ của cơ quan, tổ chức. Theo Điều 1 Nghị định số 58/2001/NĐ-CP ngày 24/8/2001 của Chính phủ về quản lý và sử dụng con dấu thì: “Con dấu thể hiện vị trí pháp lý và khẳng định giá trị pháp lý đối với các văn bản, giấy tờ của các cơ quan, tổ chức và các chức danh nhà nước. Con dấu được quản lý theo quy định của Nghị định này”, việc khắc dấu, sử dụng con dấu, trách nhiệm đăng ký và thông báo . . . phải tuân theo quy định của pháp luật. Còn tài liệu của cơ quan, tổ chức là tài liệu về tổ chức, hoạt động, dự án, công trình nghiên cứu khoa học, hồ sơ cán bộ, sổ sách . . .

Bài liên quan:  Tội Giả Mạo Chức Vụ, Cấp Bậc, Vị Trí Công Tác

Cần lưu ý trong việc xác định hành vi phạm tội là trong trường hợp làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức để sử dụng thực hiện hành vi trái pháp luật mà hành vi đó cấu thành tội phạm thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này.

– Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội thực hiện hành vi của mình với lỗi cố ý. Động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm nhưng có ý nghĩa quan trọng trong việc xem xét tính chất, mức độ của tội phạm.

– Chủ thể của tội phạm

Chù thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định.

Hình phạt

Khung cơ bản được quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự, theo đó người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.

Khung tăng nặng thứ nhất được quy định tại khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự với mức phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.

Khung tăng nặng thứ hai được quy định tại khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự với mức phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

Bài liên quan:  Tội Sửa Chữa Và Sử Dụng Giấy Chứng Nhận, Các Tài Liệu Của Cơ Quan, Tổ Chức

Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Căn cứ pháp lý

Điều 341 Bộ luật hình sự – Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
c) Làm từ 02 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác đến 05 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác;
d) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng;
đ) Thu lợi bất chính từ 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng;
e) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Làm 06 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác trở lên;
b) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
c) Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Có thể bạn quan tâm:
Tư Vấn Pháp Luật Qua Zalo, Email, Messenger
Luật Sư Bào Chữa Vụ Án Hình Sự

Luật Sóng Hồng
Dịch vụ luật sư