Cập nhật: 24/06/2020

Tội Không Chấp Hành Lệnh Gọi Quân Nhân Dự Bị Nhập Ngũ

 

Tội làm, buôn bán tem giả, vé giả được quy định tại Điều 333 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

Dấu hiệu pháp lý

– Khách thể của tội phạm

Tội phạm xâm phạm đến chế độ đăng ký, quản lý, tổ chức, biên chế, huấn luyện, diễn tập đối với quân nhân dự bị của Nhà nước trong các hoàn cành đặc biệt theo quy định của pháp luật.

– Mặt khách quan của tội phạm

– Hành vi phạm tội của tội này là hành vi không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ trong trường hợp có lệnh tổng động viên, lệnh động viên cục bộ, có chiến tranh hoặc có nhu cầu tăng cường cho lực lượng thường trực của quân đội để chiến đấu bảo vệ địa phương, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ . . .

– Hậu quả của tội phạm là hậu qủa phi vật chất làm ảnh hường đến kế hoạch tuyển quân, đến chính sách thực hiện nghĩa vụ quân sự đối với người đã đủ điều kiện để nhập ngũ. Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm mà nó chỉ có ý nghĩa trong việc quyết định hình phạt.

– Mặt chủ quan của tội phạm

Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý.

Động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, việc xác định động cơ có ý nghĩa trong quyết định hình phạt.

– Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội này là chủ thể đặc biệt, đó là quân nhân dự bị, đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự.

Quân nhân dự bị là gì? Theo quy định của Luật Nghĩa vụ quân sự thì hạ sĩ quan và binh sĩ xuất ngũ khi về đến nơi cư trú phải có trách nhiệm đăng ký vào ngạch dự bị với Ban chi huy quân sự cấp xã, cấp huyện. Sau khi được đăng ký, những hạ sĩ quan và binh sĩ xuất ngũ này được coi là quân nhân dự bị.

Theo Điều 24 Luật nghĩa vụ quân sự 2015 thì Hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị được chia thành hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị hạng một và binh sĩ dự bị hạng hai.

–  Hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị hạng một:

+  Hạ sĩ quan, binh sĩ xuất ngũ đã phục vụ tại ngũ đủ 06 tháng trở lên;

+  Hạ sĩ quan, binh sĩ xuất ngũ đã qua chiến đấu;

+ Công dân nam thôi phục vụ trong Công an nhân dân, đã có thời gian phục vụ từ 20 tháng trở lên;

+ Công dân nam là quân nhân chuyên nghiệp thôi phục vụ tại ngũ;

+  Công dân nam là công nhân, viên chức quốc phòng được chuyển chế độ từ hạ sĩ quan, binh sĩ đã thôi việc;

+  Dân quân tự vệ nòng cốt đã hoàn thành nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ, trong đó có ít nhất 12 tháng làm nhiệm vụ dân quân tự vệ thường trực hoặc đã qua huấn luyện tập trung đủ 03 tháng trở lên;

+ Công dân là binh sĩ dự bị hạng hai đã qua huấn luyện tập trung đủ 06 tháng trở lên;

+ Công dân hoàn thành nhiệm vụ tham gia Công an xã liên tục từ đủ 36 tháng trở lên.

– Binh sĩ dự bị hạng hai:

+ Công dân nam là binh sĩ xuất ngũ, đã phục vụ tại ngũ dưới 06 tháng;

+ Công nhân, viên chức quốc phòng không thuộc đối tượng quy định tại điểm đ khoản 2 Điều này đã thôi việc;

+  Công dân nam thôi phục vụ trong Công an nhân dân đã có thời gian phục vụ dưới 12 tháng;

+ Công dân nam hết độ tuổi gọi nhập ngũ chưa phục vụ tại ngũ và thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân;

+ Công dân nữ đã đăng ký nghĩa vụ quân sự theo quy định tại khoản 2 Điều 12 của Luật nghĩa vụ quân sự.

Hình phạt

Khung cơ bản được quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật hình sự, theo đó người nào là quân nhân dự bị mà không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ trong trường hợp có lệnh tổng động viên, lệnh động viên cục bộ, có chiến tranh hoặc có nhu cầu tăng cường cho lực lượng thường trực của quân đội để chiến đấu bảo vệ địa phương, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Khung tăng nặng được quy định tại khoản 2 Điều 331 Bộ luật hình sự với mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Căn cứ pháp lý

Điều 333 Bộ luật hình sự – Tội không chấp hành lệnh gọi quân nhân dự bị nhập ngũ
1. Người nào là quân nhân dự bị mà không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ trong trường hợp có lệnh tổng động viên, lệnh động viên cục bộ, có chiến tranh hoặc có nhu cầu tăng cường cho lực lượng thường trực của quân đội để chiến đấu bảo vệ địa phương, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Tự gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của mình;
b) Lôi kéo người khác phạm tội.

Có thể bạn quan tâm:
Tư Vấn Pháp Luật Qua Zalo, Email, Messenger
Luật Sư Bào Chữa Vụ Án Hình Sự

Luật Sóng Hồng
Dịch vụ luật sư