Cập nhật: 14/07/2020

Tội Cản Trở Việc Thi Hành Án

 

Tội cản trở việc thi hành án được quy định tại Điều 381 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

Dấu hiệu pháp lý

– Khách thể của tội phạm

Tội phạm này xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan tiến hành tố tụng, đồng thời xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và người được thi hành án.

– Mặt khách quan của tội phạm

Người phạm tội trước hết họ phải lợi dụng chức vụ, quyền hạn mà họ có để tác động đến người có thầm quyền ra quyết định thi hành án hoặc người có thẩm quyền thi hành quyết định thi hành án hoặc tác động đến người phải chấp hành án để việc thi hành án thông được thực hiện.

Người phạm tội có thể dùng những thủ đoạn khác nhau như: gọi diện, viết thư cho người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án hoặc người có thẩm quyền thi hành quyết định thi hành án tạm dừng việc ra quyết định hoặc tạm dừng việc thi hành quyết định, hoặc tác động đến người phải chấp hành án; tạo diều kiện cho người phải chấp hành án bỏ đi khỏi địa phương một cách “hợp pháp” (đi công tác, học tập ở nước ngoài dài hạn); báo trước cho người phải chấp hành án bỏ trốn hoặc bỏ đi khỏi địa phương, để tẩu tán tài sản, để ngăn cản, chống đối lực lượng thi hành án trước khi cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc thi hành án, hoặc có những hành vi khác gây khó khăn cho việc thi hành án.

Hậu quả của hành vi cản trở việc thi hành án là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này, đó là:

+ Dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án bỏ trốn;

+ Dẫn đến hết thời hiệu thi hành án;

+ Dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án, người có nghĩa vụ thi hành án tẩu tán tài sản và không thi hành được nghĩa vụ thi hành án với số tiền từ 50.000.000 đồng trở lên.

– Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội của mình với lỗi cố ý.

– Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt, chỉ có những người có chức vụ, quyền hạn mới có thể là chủ thể của tội phạm này.

Người có chức vụ, quyền hạn có thể là người có chức vụ, quyền hạn liên quan đến việc thi hành án, nhưng cũng có cả những người không liên quan đến việc thi hành án, nhưng đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để cản trở việc thi hành án.

Hình phạt

Khung cơ bản được quy định tại khoản 1 Điều 381 Bộ luật hình sự với mức phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Khung tăng nặng được quy định tại khoản 2 Điều 381 Bộ luật hình sự với mức phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.

Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Căn cứ pháp lý

Điều 381 Bộ luật hình sự – Tội cản trở việc thi hành án
1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý cản trở việc thi hành án thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án bỏ trốn;
b) Dẫn đến hết thời hiệu thi hành án;
c) Dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án, người có nghĩa vụ thi hành án tẩu tán tài sản và không thi hành được nghĩa vụ thi hành án với số tiền từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Gây thiệt hại từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án tiếp tục thực hiện tội phạm;
c) Dẫn đến người bị kết án, người phải thi hành án, người có nghĩa vụ thi hành án tẩu tán tài sản và không thi hành được nghĩa vụ thi hành án với số tiền 200.000.000 đồng trở lên;
d) Gây thiệt hại 200.000.000 đồng trở lên.
3. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Có thể bạn quan tâm:
Tư Vấn Pháp Luật Qua Zalo, Email, Messenger
Luật Sư Bào Chữa Vụ Án Hình Sự

Chi tiết vui lòng liên hệ:
 
CÔNG TY LUẬT SÓNG HỒNG
 
Địa chỉ: Tầng 3, số 26 phố Lê Đại Hành, phường Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
 
Luật Sóng Hồng
Dịch vụ luật sư