Cập nhật: 10/07/2020

Tội Bức Cung

 

Tội bức cung được quy định tại Điều 374 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

Dấu hiệu pháp lý

– Khách thể của tội phạm

Tội phạm này xâm phạm đến uy tín của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án; xâm phạm đến nguyên tắc xác định sự thật của vụ án. Do bị bức cung đã làm cho người bị thẩm vấn khai sai sự thật có thể dẫn đến làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm, hoặc gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho các đương sự trong vụ án hình sự.

– Mặt khách quan tội phạm

Hành vi khách quan của tội phạm này là hành vi sử dụng thủ đoạn trái pháp luật ép buộc người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung phải khai ra thông tin liên quan đến vụ án, vụ việc trong hoạt động tố tụng.

Bức cung là cưỡng bức người bị thẩm vấn, người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung phải khai theo ý muốn của người hỏi cung. Hành vi cưỡng bức của người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, có thể được biểu hiện như sau:

Đe doạ dùng vũ lực, uy hiếp tinh thần hoặc đe doạ sẽ gây thiệt hại về vật chất đối với người tham gia tố tụng như: Nếu không khai sai sự thật thì sẽ bị nhốt vào phòng biệt giam, sẽ để đói, để khát, không cho nhận quà . . .  (đối với bị can, bị cáo đang bị tạm giam); nếu khai sai sự thật thì sẽ cho công bố thư, ảnh, lời nói, hành động . . . liên quan đến bí mật lời tư; không cho lên lương, không cơ cấu, bổ nhiệm, đề bạt hoặc sẽ bị thiệt hại về những quyền lợi khác (đối với người tham gia tố tụng khác).

Hậu qủa là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Nếu hành vi bức cung chưa làm cho người bị bức cung khai sai sự thật và chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng thì hành vi bức cung chưa cấu thành tội phạm.

Ngoài hành vi khách quan, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, nhà làm luật còn quy định một số dấu hiệu khách quan khác là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành, đó là: thù đoạn mà người phạm tội sử dụng phải là trái pháp luật.

– Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý (cố ý trực tiếp).

– Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt, chỉ có những người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử như: Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát; Chánh án, Phó Chánh án Toà án; Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thầm phán và Hội thẩm nhân dân, mới có thể thực hiện được tội phạm này.

Hình phạt

Khung cơ bản được quy định tại khoản 1 Điều 374 Bộ luật hình sự, theo đó người nào trong hoạt động tố tụng mà sử dụng thủ đoạn trái pháp luật ép buộc người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung phải khai ra thông tin liên quan đến vụ án, vụ việc, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Khung tăng nặng thứ nhất được quy định tại khoản 2 Điều 374 Bộ luật hình sự với mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Khung tăng nặng thứ hai được quy định tại khoản 3 Điều 374 Bộ luật hình sự với mức phạt tù từ 07 năm đến 12 năm.

Khung tăng nặng thứ ba được quy định tại khoản 4 Điều 374 Bộ luật hình sự với mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề từ 01 năm đến 05 năm.

Căn cứ pháp lý

Điều 374 Bộ luật hình sự – Tội bức cung
1. Người nào trong hoạt động tố tụng mà sử dụng thủ đoạn trái pháp luật ép buộc người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung phải khai ra thông tin liên quan đến vụ án, vụ việc, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Đối với 02 người trở lên;
c) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;
d) Dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung;
đ) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;
e) Dẫn đến làm sai lệch kết quả khỏi tố, điều tra, truy tố, xét xử;
g) Ép buộc người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung phải khai sai sự thật.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:
a) Làm người bị bức cung tự sát;
b) Dẫn đến bỏ lọt tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng; người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Làm người bị bức cung chết;
b) Dẫn đến làm oan người vô tội;
c) Dẫn đến bỏ lọt tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; người thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề từ 01 năm đến 05 năm.

Có thể bạn quan tâm:
Tư Vấn Pháp Luật Qua Zalo, Email, Messenger
Luật Sư Bào Chữa Vụ Án Hình Sự

Luật Sóng Hồng
Dịch vụ luật sư